Bài 1: Thiên- Địa- Nhân tam đạo luận
Dẫn nhập: “Tam sinh vạn vật”
Trong thần học Công Giáo, người ta nói rằng Thượng Đế hay Chúa có 3 ngôi: Chúa-cha (1), Chúa-con (2), Chúa-thánh-thần (3). Tuy 3 mà 1, gọi là Tam vị nhất thể (Trinity). (giống như tam giác có 3 góc, nhưng chỉ là 1 hình, chứ không phải 3 hình)
Trinity này trong Ấn Độ giáo gọi là Trimurti: Shiva – hủy diệt (1), Vishnu – bảo tồn (2), Brahma – sáng tạo (3).
Phật giáo có Tây phương tam Thánh: A Di Đà – Dũng (1), Quán Thế Âm – Bi (2), Đại Thế Chí – Trí (3); có Thích Ca tam Thánh: Thích Ca – Văn Thù – Phổ Hiền; có Tam bảo: Phật – Pháp – Tăng.
Ai Cập giáo có: Osiris – cha (1), Isis – mẹ (2), Horus – con (3); hay trước đó là Amun- Ra- Ptah.
Thần học Do Thái có Supernal triangle: Kether- Chokmah - Binah.
Hy Lạp cổ đại có Transcendentals (siêu việt): Chân (1), Thiện (2), Mỹ (3).
Trung Hoa cổ đại có Tam hoàng: Thiên hoàng - Địa hoàng - Nhân hoàng hay Phục Hy - Nữ Oa - Thần Nông.
Dịch học có Tam tài: Thiên– Địa– Nhân.
Đạo giáo có Tam Thanh: Ngọc Thanh (1), Thái Thanh (2), Thượng Thanh (3).
· Trời có Nhật – Nguyệt – Tinh.
· Người có Thần – Khí – Tinh.
· Cơ thể người, lại có Tam đan điền: Thượng đan-điền (1) ở đầu, Trung đan-điền (2) ở ngực, Hạ đan-điền (3) ở dưới rốn.
Thuyết Âm Dương kỳ thực cũng có 3 ngôi: Thái-cực (1), Lưỡng-nghi (2), Tứ-tượng (3).
· Trước khi có vũ trụ, thì Không có gì, đó là Hỗn-mang, Hồng-mông hay Vô-cực (0). Từ Không trở thành Có: trong hư vô xuất hiện một nguyên lý Tối-thượng, Tuyệt-đối, Duy-nhất, gọi là Thái-cực, đây là tồn tại đầu tiên, thứ (1).
· Thái-cực (1) hay Đấng-tuyệt-đối mới phân tách làm hai nửa. Phần nhẹ bay lên là Dương, phần nặng chìm xuống là Âm. Đó là Lưỡng-nghi, thứ (2). Âm và Dương tạo thành các cặp đối lập: Sáng và Tối, Ngày và Đêm, Đực và Cái…
· Âm Dương tương khắc, nhưng lại giao thoa. Từ đó Lưỡng-nghi sinh ra Tứ-tượng, thứ (3): trong Âm có Dương, trong Dương lại có Âm. Đó là mối quan hệ giữa 2 mặt đối lập: tương khắc mà lại tương sinh, tác động qua lại mà biến hóa ra vạn vật.
Và còn nhiều ví dụ khác…
Như vậy:
· Từ 1 thể Tuyệt đối, khi biểu hiện sẽ thành 3 khía cạnh, 3 loại năng lượng khác nhau. Mọi sự trên thế giới này đều chịu ảnh hưởng bởi cả 3 loại năng lượng cơ bản này, chỉ khác ở mức độ ít nhiều. Cũng như có 3 màu cơ bản: đỏ (1), lam (2), vàng (3); mỗi sắc màu trên thế giới đều từ 3 màu này mà ra, chỉ khác ở tỉ lệ.
· Đó gọi là “Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam, Tam sinh vạn vật”, và cũng là “Nhất khí hóa Tam Thanh”. Ý niệm về Bộ-ba tồn tại trong khắp các nền văn minh và tôn giáo trong lịch sử.
· Cũng như vậy, Đại Đạo tuy 1, nhưng lại chia làm 3, tạm gọi là Thiên đạo (1), Nhân đạo (2) và Địa đạo (3). Người trong thế gian đều theo 3 đạo này mà đi, không thể ra ngoài nửa bước. Hiểu được Tam đạo, có thể hiểu được bản thân. Hiểu được bản thân, có thể hiểu được số mệnh và đường đạo của chính mình.
1) Thiên đạo:
Thiên đạo xuất phát từ Thái cực chí cao vô thượng, là con đường của Ý CHÍ, dũng mãnh, quyền lực, sát phạt... Thế giới này bắt nguồn từ một Ý nghĩ hay Ý chí của Cái-tuyệt-đối. Ý chí này thống trị và nắm quyền sinh sát vạn vật.
Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Thiên đạo thường hoạt động trong lĩnh vực CHÍNH TRỊ, quân sự, tổ chức, quản lý… Xu hướng chung của họ là leo lên những vị trí quyền lực và chỉ đạo người khác làm việc.
· Người Thiên đạo thường có mục đích cụ thể cho mọi hành động, có tầm nhìn rộng lớn, thường quan tâm đến những vấn đề vĩ mô, và ít chú trọng đến chi tiết. Quyền mưu thường là cách mà họ đạt được mục đích của mình.
Ở mức độ phát triển cao, người Thiên đạo trở thành những vị vua, những nhà chinh phạt vĩ đại gây chấn động thời đại. Đó có thể là những nhà lập quốc như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Washington… những vị vua khiến quốc thái dân an (vương đạo) như Đường Thái Tông, Elizabeth I… những kẻ xâm lược (bá quyền) như Julius Caesar, Alexandre đại đế, Napoleon… hay những nhà quân sự lỗi lạc như Tôn Tử, Trần Hưng Đạo, Suvorov…
· Người Thiên đạo chính là những người tạo ra các trật tự thống trị, từ cấp bộ lạc cho đến một vùng đất, một quốc gia và siêu quốc gia, từ mô hình chủ nô, phong kiến cho đến các thiết chế nhà nước hiện đại…
Ý chí mạnh mẽ của người Thiên đạo đi đầu dẫn dắt xã hội. Tuy nhiên, họ có khuynh hướng xem thường ý chí của những người xung quanh, và muốn o ép người khác phải đi theo kế hoạch, định hướng của họ. Về chính trị, người ta sẽ thao túng hoặc ép buộc người khác bằng những chính sách, luật lệ… Về quân sự, đó là sự càn quét bằng sức mạnh, bạo lực.
· Điểm tốt thường thấy của người Thiên đạo là lòng dũng cảm, ý chí mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì…
· Điểm xấu là vì Thiên đạo quá thiên về quyền lực và ý chí sắt đá, dễ dẫn đến bạo lực, tàn nhẫn, thiếu lòng nhân từ (thuộc về Nhân đạo).
Biểu tượng của Thiên đạo là Mặt trời (Nhật), chủ tể của bầu trời. Mặt trời vừa là yếu tố thiết yếu của sự sống (không thể có sự sống nếu không có mặt trời), mà cũng là yếu tố hủy diệt trong nhiều trường hợp. Đó là lý do Shiva là thần hủy diệt - sự hủy diệt cái cũ trước khi sáng tạo cái mới. Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn… mang trong người ý chí “khai sơn phá thạch”, từ hủy diệt mà sáng lập ra một quốc gia mới.
· “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô” chính là nói về người Thiên đạo. Họ tự xem mình là số 1 (Thái cực, cao nhất), kế hoạch do họ đặt ra là trên hết, những người khác đều là thứ yếu. Họ dám tiến hành những cuộc chiến tranh đẫm máu mà người bình thường phải chùng tay. Lịch sử chiến tranh của nhân loại đều nằm dưới sự chỉ huy của những người thuộc Thiên đạo. Câu kinh “Trời đất bất nhân, xem vạn vật như chó rơm” cũng là nói về Thiên đạo.
2) Nhân đạo:
Nhân đạo xuất phát từ Lưỡng nghi Âm-Dương, là con đường của TÌNH THƯƠNG và MINH TRIẾT.
Trong Tinh- Khí- Thần, thì Nhân đạo thuộc về Khí. Khí có Âm và Dương, khắc nhau mà lại hút nhau, điều đó tạo ra một ‘Mối quan hệ’ giữa 2 mặt đối lập, xoay vần không ngớt. Điều này khiến cho người Nhân đạo thường xuyên suy tư về mối quan hệ giữa bản thân và môi trường xung quanh, hoặc với những người xung quanh.
· Sự suy tư thường xuyên về vạn vật, đúc kết kinh nghiệm đời sống… dẫn đến sự khôn ngoan, minh triết.
· Giữa người với người, mối quan hệ khiến nảy sinh ra Tình (người). Con người sẽ nảy sinh nhu cầu dàn xếp, điều hòa các mối Quan hệ giữa người với người sao cho ổn thỏa, tránh xung đột trong cuộc sống. Đến gần cuối con đường, qua nhiều kiếp sống suy ngẫm về nhân sinh, về thế thái nhân tình, tình yêu thương trở nên vô kỷ, trở thành lòng từ bi, bác ái.
Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Nhân đạo có thường hoạt động trong lĩnh vực mang tính NHÂN SINH. Người Nhân đạo thường trở thành những người thầy, quân sư, triết gia, cố vấn, nhà tâm lý, nhà văn… thích bàn luận sâu sắc các vấn đề. Và nếu họ tìm thấy lý tưởng tinh thần, thì sẽ trở thành một nhà tôn giáo, tiến nhập đường Đạo.
· Nếu như người Thiên đạo là những thủ lĩnh chính trị hay quân sự, thì người Nhân đạo là những quân sư ‘quạt mo’, những chiến lược gia luận bàn và hoạch định thời cuộc. Thủ lĩnh chính trị thiếu quân sư thì không thể thành công, quân sư mà không gặp thủ lĩnh, thì khó có đất dụng võ.
Khi chưa phát triển cao, người Nhân đạo cũng có những điểm yếu nhất định. Họ thường mơ mộng thiếu thực tế, thiếu quyết đoán trong hành động; dễ sa đà vào lý thuyết thiếu thực tiễn… Ái tình dễ khiến họ sa ngã, còn sự dễ mủi lòng và cả tin lại khiến họ dễ bị lừa gạt. Khi tiếp xúc quá sớm với tâm linh mà thiếu óc phân biện, họ dễ rơi vào con đường mê tín…
· Trong đời sống thường ngày, người Nhân đạo thường không mấy nổi bật, những điểm mạnh của họ thường là hiền lành hay ‘hiểu lẽ thường’ (common-sense) thì đều không gây ấn tượng mạnh cho người khác. Nhưng khi đã phát triển ở mức độ cao nhất, ta có những bậc Đạo sư và Triết gia vĩ đại. Đó là những Thích Ca Mâu Ni, Jesus, Plato, Khổng Tử, Lão Tử… với sức mạnh tư tưởng có tầm ảnh hưởng vượt thời đại, kéo dài hàng ngàn năm, được nhân thế kính ngưỡng. Những điểm nhấn trong tư tưởng của họ luôn là Minh triết và Bác ái (từ bi/ tình thương).
Vì vậy, Nhân đạo là đạo về ‘bảo tồn’ (Vishnu), đạo của Minh Triết (Phật), Tình thương (Jesus), cứu nhân độ thế (các vị Thánh, Bồ tát)… Biểu tượng của Nhân đạo là Mặt trăng (Nguyệt) – phản chiếu nhân sinh, soi sáng dịu dàng mà không thiêu đốt, không làm hại sinh linh.
3) Địa đạo:
“Tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng.”
Địa đạo là con đường của TRÍ TUỆ và SÁNG TẠO. Nếu như Mặt trời có sức mạnh hủy diệt mạnh mẽ, thì Đất mẹ (Gaia) lại chú trọng đến sáng tạo (Brahma), vạn vật sinh sôi, trăm hoa đua nở.
· Thiên đạo chủ về tinh thần, ý chí và sức mạnh; Nhân đạo chủ về tư tưởng, tình thương, nhân sinh quan; Địa đạo thì chủ về trí tuệ, làm chủ vật chất.
Người thuộc Địa đạo vì vậy rất đông đảo và đa dạng, thuộc đủ mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội, với nhiều nhánh nhỏ bên trong: toán học và khoa học kỹ thuật; nghệ thuật; thiết kế, kiến trúc; thương mại, giao dịch…
· Trong một tổ chức, người Thiên đạo thường là người chỉ đạo, người Nhân đạo là cố vấn hoạch định chiến lược, còn người Địa đạo là những kỹ thuật viên làm việc trực tiếp để hoàn thành công việc.
· Chính vì vậy, trong khi Thiên đạo tạo ra những con người có ý chí mạnh mẽ nhất, Nhân đạo tạo ra những nhà hiền triết khôn ngoan (wise) và từ bi nhất, thì Địa đạo tạo ra những con người thông minh (intelligent) và sáng tạo nhất thế giới.
· Đó là những Pythagore, Copernicus, Da Vinci, Newton, Faraday, Mendeleev, Einsteins, Edison, Tesla… và vô số những bộ óc vĩ đại khác.
Với trí tuệ và sức sáng tạo cao, người Địa đạo chính là nhóm người chủ chốt trong việc tạo ra những nền văn minh vật chất của thế giới.
· Sự phát triển về trí tuệ giúp con người tiền sử biết sử dụng công cụ, biết dùng lửa, rồi biết chăn nuôi, trồng trọt, săn bắn… dần hình thành các nền văn minh khác nhau suốt chiều dài lịch sử nhân loại.
· Trí tuệ thường được thể hiện qua sự sáng tạo, và sự sáng tạo có mặt ở khắp mọi nơi: từ những món ăn mới, những mẫu thời trang mới, những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, cho đến những công trình kiến trúc vượt thời gian…
· Đến thời cận đại, nhân loại chứng kiến sự bùng nổ của trí tuệ: những khám phá khoa học, những cuộc cách mạng công nghiệp, nền giáo dục phổ quát chú trọng vào trí tuệ vật chất… đã thay đổi bộ mặt của trái đất một cách nhanh chóng, dẫn đến thế giới hiện đại ngày nay. Đó chính là sức mạnh Địa đạo.
Khai thác vật chất là thế mạnh của người Địa đạo. Nhưng ngược lại, vật chất cũng có thể là cái bẫy khiến con người trầm luân trong đó.
· Tiền bạc thì dễ hiểu rồi. Vàng sinh ra trong lòng đất, tiền bạc cũng là kết tinh của Địa đạo. Những người Địa đạo thường giỏi hơn trong việc tạo ra tiền bạc ở cõi trần này, các tỉ phú công nghệ của thời hiện đại thuộc nhóm này. Nhưng có tiền thì dễ, buông bỏ tiền mới khó. Người làm ra tiền, nhưng lại bị nó chi phối; tâm bị chi phối, thì không thể đắc đạo.
· Và có những thứ vô hình mà vẫn là vật chất. Ví dụ như những nhà khoa học chìm đắm trong các nghiên cứu về thế giới vật chất, những nghệ sĩ say mê vẻ đẹp của hình tướng, âm thanh… hay những kiến trúc sư, kỹ sư xây hết công trình này đến công trình khác…
· Vấn đề của vật chất là sự thiên biến vạn hóa, nói cách khác là nó có thể biến đổi vô hạn (“bát quái biến hóa vô cùng”), và người ta có thể lạc lối trong mê cung này trong vô lượng kiếp sống mà không tìm thấy đường ra, hay không thấy sự cần thiết của việc tầm Đạo. Theo một cách nói, người ta gọi đây là ‘xảo trí’; đối ngược với ‘minh triết’, đơn giản mà thông tuệ.
Nếu Thiên đạo là Nhật, Nhân đạo là Nguyệt, thì Địa đạo là Tinh, là vô số vì sao trên bầu trời vô hạn bao la.
4) Luận bàn:
Đại Đạo tuy một, nhưng lại chia ba. Mỗi đạo thực ra là một loại năng lượng.
· Ba loại năng lượng này giao thoa, tạo ra vô số biến hóa trong vũ trụ, giống như 3 màu cơ bản tạo ra vô số sắc màu của thế gian này. Mỗi một người, một vật, một sự kiện trên thế gian này đều là kết quả của cả 3 loại năng lượng này ở những tỉ lệ khác nhau – như một màu cụ thể trong vô số sắc màu của thế gian.
· Do đó, khi ta nói một người thuộc Thiên đạo/ Nhân đạo/ hay Địa đạo, thì đó là đang nói một cách tương đối, nói về cái đặc tính chủ đạo của người đó, chứ không phải người đó chỉ mang một loại năng lượng.
Vậy hiểu Tam đạo luận có lợi ích gì?
Đầu tiên, Tam đạo luận này chỉ ra một hình mẫu lặp đi lặp lại trong các diễn giải về thế giới của các tôn giáo và các nền văn minh Đông- Tây, đối chiếu và liên hệ chúng, từ đó cho thấy một logic có thể xem là nhất quán của nguyên lý ‘tam nguyên’ hay ‘tam phân’. Từ đây, ta có thể suy ngẫm về các nền giáo lý, cũng như kiến giải về cách mà thế giới này đang vận động.
· Liệu đó có phải chỉ là trùng hợp? Hay là khi các tôn giáo và hệ tư tưởng, dù có cách tiếp cận và diễn giải khác nhau, nhưng khi tiệm cận chân lý thì đều thấy cùng một sự thật giống nhau?
Đây cũng có thể xem là một mô hình, một cách giải thích thế giới theo hướng quy nạp, ngược dòng về nguồn cội của vạn vật. Và mỗi sự vật, hiện tượng, đều có thể được phân tích theo mô hình tam phân này.
· Ví dụ: Mọi tôn giáo đều là một con đường nhỏ (tiểu đạo) bên trong Nhân đạo, với sự khác biệt đôi chút tùy mức độ ảnh hưởng năng lượng Thiên và Địa. Phật giáo mang đậm dấu ấn của Nhân đạo, trong đó Từ bi và Trí huệ được đề cao. Abraham tam giáo (Do Thái, Công Giáo và Hồi Giáo) cũng thuộc Nhân đạo, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh của Thiên đạo, nặng về Thần quyền, phục tùng, thường xảy ra ‘thánh chiến’. Lão giáo thì có ảnh hưởng của Địa đạo, thiên về “thuật”, chú trọng luyện khí, luyện đơn…
· Bên trong một tôn giáo lại có những sự phân nhánh. Ví dụ như Phật giáo có Tam thừa: Độc giác thừa, Bồ tát thừa và Thanh văn thừa. Độc giác thừa là con đường ý chí, tự giác ngộ, ứng với Thiên. Bồ tát thừa là con đường từ bi, hướng tới chúng sinh, ứng với Nhân. Thanh văn thừa là con đường trí tuệ, học nhiều hiểu rộng mà đắc đạo, ứng với Địa.
· Ta cũng có thể xem xét lĩnh vực chính trị, vốn thuộc về Thiên đạo. Ngày nay, theo cơ chế “tam quyền phân lập”, quyền lực nhà nước được chia thành 3 nhánh Lập pháp- Tư pháp- Hành pháp và bộ máy nhà nước được tổ chức thành Quốc hội- Tòa án- Chính phủ. Đây cũng là một mô hình Tam phân! Khi đối chiếu với Tam đạo, ta có thể nhận định là: Tòa án mang ý chí bảo vệ công bằng, trật tự pháp luật, ứng với Thiên; Quốc hội đại diện cho người dân, là tiếng nói lương tâm của đất nước, ứng với Nhân; còn Chính phủ trực tiếp thực hiện các công việc quản lý nhà nước thuộc mọi lĩnh vực, ứng với Địa.
Thêm vào đó, ta có thể suy ngẫm về dòng chảy của thời đại, được thôi thúc bởi các loại năng lượng khác nhau.
· Ví dụ: Trong thời kỳ phong kiến, nhà nước mang ý chí áp đặt cao độ, đặc tính của Thiên là chủ đạo và thể hiện rõ nét. Sau đó, các nền cộng hòa và chế độ dân chủ tìm cách cân bằng quyền lực và bảo vệ người dân, Hiến pháp thể hiện ý chí của toàn dân thay vì của một người cầm quyền; mô hình này là biểu hiện của Nhân đạo. Đến thời điểm hiện tại, người ta nói về chính phủ “kỹ trị”, ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào quản trị, đây là biểu hiện của Địa đạo.
Đó là nói về ‘đại thiên địa’. Ta cũng có thể tự nghiền ngẫm về ‘tiểu thiên địa’ theo cách tương tự:
· Đạo giáo cho biết cơ thể con người có tam đan điền (thượng, trung, hạ) và ở mức cao hơn, con người là một ‘tam hợp’ Thần- Khí- Tinh. Huyền bí học phương Tây thì cho rằng con người có Spirit- Soul- Body, tức là Tinh thần- Linh hồn- Thể xác. Ta có thể nhận định rằng Thần ứng với Thiên, Hồn/ Khí ứng với Nhân, Xác/ Tinh ứng với Địa.
Mặt khác, Tam đạo luận cũng có thể xem là một loại hình tâm lý học, trong đó chỉ ra ba xu hướng chủ chốt về tâm lý của con người. Khi hiểu Tam đạo, người ta có thể tự quán chiếu để hiểu rõ bản thân mình, hiểu được đặc tính chủ đạo của bản thân thuộc về nhóm nào. Khi hiểu được đặc tính của bản thân, người ta có thể suy ngẫm về các cơ duyên và lựa chọn trong đời mình.
· Tam đạo ảnh hưởng con người không phải là một Định mệnh, mà thực ra là theo một quy luật của năng lượng. Năng lượng khác biệt tạo ra đường đi (đạo) khác biệt, nhưng Tam đạo đều không ngoài Đại Đạo. Điều này giống như 3 dòng chảy (hải lưu) trong cùng 1 đại dương. Và theo nguyên tắc “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, chính cái năng lượng của mỗi người khiến họ bị cuốn vào trong dòng chảy năng lượng tương ứng. Hình ảnh “gió tầng nào, mây tầng ấy” là một minh họa dễ hiểu cho vấn đề này.
· Tại sao có người thích chính trị, có người thích tôn giáo, có người thích kỹ thuật? Cái khuynh hướng tâm lý của mỗi người dẫn đến lựa chọn của họ, và những lựa chọn khác nhau dẫn đến những cuộc đời khác nhau. Khi con người hiểu Đạo và tự hiểu mình, thì có thể tỉnh thức mà bước đi trên đường Đạo, thay vì bị dòng đời cuốn đi một cách vô thức. “Hãy tự hiểu mình” chính là một chìa khóa để mở ra cánh cửa đạo.
Và một điều cuối cùng, đó là: Tam đạo luận có thể giúp người ta hiểu hơn về điểm mạnh điểm yếu của bản thân, từ đó phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu. Học hỏi, hiểu mình, sửa mình, đó là những bước đầu tiên trên Đường đạo.
No comments:
Post a Comment