Bài 1: Thiên- Địa- Nhân tam đạo luận
Dẫn nhập: “Tam sinh vạn vật”
Trong thần học Công Giáo, người ta nói rằng Thượng Đế hay Chúa
có 3 ngôi: Chúa-cha (1), Chúa-con (2), Chúa-thánh-thần (3). Tuy 3 mà 1,
gọi là Tam vị nhất thể (Trinity).
(giống như tam giác có 3 góc, nhưng chỉ là 1 hình, chứ không phải 3
hình)
Trinity này trong Ấn Độ giáo gọi là Trimurti: Shiva –
hủy diệt (1), Vishnu – bảo tồn (2), Brahma – sáng tạo (3).
Phật giáo có Tây phương tam Thánh: A Di Đà – Dũng (1),
Quán Thế Âm – Bi (2), Đại Thế Chí – Trí (3).
·
Ngoài ra, còn có Thích Ca tam Thánh: Thích Ca –
Văn Thù – Phổ Hiền và Tam bảo: Phật – Pháp – Tăng.
Ai Cập giáo có: Osiris – cha (1), Isis – mẹ (2), Horus – con
(3); hay trước đó là Amun- Ra- Ptah.
Thần học Do Thái có Supernal triangle: Kether- Chokmah
- Binah.
Hy Lạp cổ đại có Transcendentals (siêu việt): Chân (1),
Thiện (2), Mỹ (3).
Trung Hoa cổ đại có Tam hoàng: Thiên hoàng - Địa hoàng
- Nhân hoàng hay Phục Hy - Nữ Oa - Thần Nông.
Dịch học có Tam tài: Thiên– Địa– Nhân.
Đạo giáo có Tam Thanh: Ngọc Thanh (1), Thái Thanh (2),
Thượng Thanh (3).
·
Trời có Nhật – Nguyệt – Tinh.
·
Người có Thần – Khí – Tinh.
·
Cơ thể người, lại có Tam đan điền: Thượng
đan-điền (1) ở đầu, Trung đan-điền (2) ở ngực, Hạ đan-điền (3) ở dưới rốn.
Và còn nhiều ví dụ khác…
Trong đó, thuyết Âm Dương kỳ thực cũng có 3 ngôi: Thái Cực (1),
Lưỡng Nghi (2), Tứ Tượng (3).
·
Thái Cực là tồn tại nguyên thủy, duy nhất, là
(ngôi) thứ 1.
·
Thái Cực (1) hay Thể Tuyệt đối mới phân cực làm
hai nửa. Phần nhẹ bay lên là Dương, phần nặng chìm xuống là Âm. Đó là Lưỡng
Nghi, (ngôi) thứ 2. Âm và Dương là hai mặt đối lập: Sáng và Tối, Ngày và Đêm,
Đực và Cái…
·
Âm Dương giao thoa, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng,
(ngôi) thứ 3. Tứ Tượng bao gồm Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, là các
trạng thái chuyển hóa của hai mặt đối lập, tương khắc mà lại tương sinh, tác
động qua lại nhưng không triệt tiêu lẫn nhau.
·
Sau khi đã có 3 ngôi, thế giới hiện tượng bắt
đầu biểu lộ, tượng trưng bởi Bát Quái “biến hóa vô cùng”.
(Mục 5. Luận giải siêu hình về ba Ngôi sẽ đưa ra lý giải về
việc tại sao thế giới hiện tượng lại bắt đầu với ba Ngôi, tại sao chúng ứng với
Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, và tại sao đặc tính của ba Ngôi lại là như vậy.)
Như vậy:
·
Từ 1 thể Tuyệt đối, khi biểu hiện sẽ
thành 3 khía cạnh, 3 loại năng lượng khác nhau. Mọi sự trên thế
giới này đều chịu ảnh hưởng bởi cả 3 loại năng lượng cơ bản này, chỉ khác ở mức
độ ít nhiều. Cũng như có 3 màu cơ bản: đỏ (1), lam (2), vàng (3); mỗi
sắc màu trên thế giới đều từ 3 màu này mà ra, chỉ khác ở tỉ lệ.
·
Đó gọi là “Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam,
Tam sinh vạn vật”, và cũng là “Nhất khí hóa Tam Thanh”. Ý
niệm về Bộ-ba tồn tại trong khắp các nền văn minh và tôn giáo trong lịch
sử.
·
Năng lượng khác nhau thì biểu hiện khác nhau. Vì
vậy, Đại Đạo tuy 1, nhưng lại chia làm 3, tạm gọi là Thiên đạo (1), Nhân
đạo (2) và Địa đạo (3). Người trong thế gian đều theo 3 đạo này mà
đi, không thể ra ngoài nửa bước. Hiểu được Tam đạo, có thể hiểu được bản thân.
Hiểu được bản thân, có thể hiểu được số mệnh và đường đạo của chính mình.
1) Thiên đạo:
Thiên đạo xuất phát từ Thái cực chí cao vô thượng, là con đường của KHỞI PHÁT, ý chí, sức mạnh, sát phạt... Thế giới này Khởi phát từ một Ý nghĩ hay Ý chí của Cái-tuyệt-đối. Ý chí này thống trị và nắm quyền sinh sát vạn vật.
Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Thiên đạo thường hoạt động trong lĩnh vực CHÍNH TRỊ, quân sự, tổ chức, quản lý… Xu hướng chung của họ là leo lên những vị trí quyền lực và chỉ đạo người khác làm việc.
·
Người Thiên đạo thường có mục đích cụ thể cho
mọi hành động, có tầm nhìn rộng lớn, thường quan tâm đến những vấn đề vĩ mô, và
ít chú trọng đến chi tiết. Quyền mưu thường là cách mà họ đạt được mục đích của
mình.
Ở mức độ phát triển cao, người Thiên đạo trở thành những vị
vua, những nhà chinh phạt vĩ đại gây chấn động thời đại. Đó có thể là những nhà
lập quốc như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Washington… những vị vua khiến
quốc thái dân an (vương đạo) như Đường Thái Tông, Elizabeth I… những kẻ xâm
lược (bá quyền) như Julius Caesar, Alexandre đại đế, Napoleon… hay những nhà
quân sự lỗi lạc như Tôn Tử, Trần Hưng Đạo, Suvorov…
·
Người Thiên đạo chính là những người tạo ra các trật
tự thống trị, từ cấp bộ lạc cho đến một vùng đất, một quốc gia và siêu quốc
gia, từ mô hình chủ nô, phong kiến cho đến các thiết chế nhà nước hiện đại…
Ý chí mạnh mẽ của người Thiên đạo đi đầu dẫn dắt xã
hội. Tuy nhiên, họ có khuynh hướng xem thường ý chí của những người xung quanh,
và muốn o ép người khác phải đi theo kế hoạch, định hướng của họ. Về chính trị,
người ta sẽ thao túng hoặc ép buộc người khác bằng những chính sách, luật lệ…
Về quân sự, đó là sự càn quét bằng sức mạnh, bạo lực.
·
Điểm tốt thường thấy của người Thiên đạo là lòng
dũng cảm, ý chí mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì…
·
Điểm xấu là vì Thiên đạo quá thiên về quyền lực
và ý chí sắt đá, dễ dẫn đến bạo lực, tàn nhẫn, thiếu lòng nhân từ (thuộc về
Nhân đạo).
Biểu tượng của Thiên đạo là Mặt trời (Nhật), chủ tể của
bầu trời. Mặt trời vừa là yếu tố thiết yếu của sự sống (không thể có sự sống
nếu không có mặt trời), mà cũng là yếu tố hủy diệt trong nhiều trường
hợp. Đó là lý do Shiva là thần hủy diệt - sự hủy diệt cái cũ trước khi sáng tạo
cái mới. Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn… mang trong người ý chí “khai
sơn phá thạch”, từ hủy diệt mà sáng lập ra một quốc gia mới.
·
“Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”
chính là nói về người Thiên đạo. Họ tự xem mình là số 1 (Thái cực, cao nhất),
kế hoạch do họ đặt ra là trên hết, những người khác đều là thứ yếu. Họ dám tiến
hành những cuộc chiến tranh đẫm máu mà người bình thường phải chùng tay. Lịch
sử chiến tranh của nhân loại đều nằm dưới sự chỉ huy của những người thuộc
Thiên đạo. Câu kinh “Trời đất bất nhân, xem vạn vật như chó rơm”
cũng là nói về Thiên đạo.
2) Nhân đạo:
Nhân đạo xuất phát từ Lưỡng nghi Âm-Dương, là con đường của ĐIỀU HÒA, tình thương và minh triết.
Trong Tinh- Khí- Thần, thì Nhân đạo thuộc về Khí. Khí có Âm và
Dương, khắc nhau mà lại hút nhau, điều đó tạo ra một ‘Mối quan hệ’ giữa
2 mặt đối lập, xoay vần không ngớt. Điều này khiến cho người Nhân đạo thường
xuyên suy tư về mối quan hệ giữa bản thân và môi trường xung quanh, hoặc với
những người xung quanh.
·
Sự suy tư thường xuyên về vạn vật, đúc kết kinh
nghiệm đời sống… dẫn đến sự khôn ngoan, minh triết.
·
Giữa người với người, mối quan hệ khiến nảy sinh
ra Tình (người). Con người sẽ nảy sinh nhu cầu dàn xếp, điều hòa các mối
Quan hệ giữa người với người sao cho ổn thỏa, tránh xung đột trong cuộc sống.
Đến gần cuối con đường, qua nhiều kiếp sống suy ngẫm về nhân sinh, về thế thái
nhân tình, tình yêu thương trở nên vô kỷ, trở thành lòng từ bi, bác ái.
Với đặc tính năng lượng này, người thuộc Nhân đạo có thường
hoạt động trong lĩnh vực mang tính NHÂN SINH. Người Nhân đạo thường trở
thành những người thầy, quân sư, triết gia, cố vấn, nhà tâm lý, nhà văn… thích
bàn luận sâu sắc các vấn đề. Và nếu họ tìm thấy lý tưởng tinh thần, thì sẽ trở
thành một nhà tôn giáo, tiến nhập đường Đạo.
·
Nếu như người Thiên đạo là những thủ lĩnh chính
trị hay quân sự, thì người Nhân đạo là những quân sư ‘quạt mo’, những chiến
lược gia luận bàn và hoạch định thời cuộc. Thủ lĩnh chính trị thiếu quân sư thì
không thể thành công, quân sư mà không gặp thủ lĩnh, thì khó có đất dụng võ.
Khi chưa phát triển cao, người Nhân đạo cũng có những điểm yếu
nhất định. Họ thường mơ mộng thiếu thực tế, thiếu quyết đoán trong hành động;
dễ sa đà vào lý thuyết thiếu thực tiễn… Ái tình dễ khiến họ sa ngã, còn sự dễ
mủi lòng và cả tin lại khiến họ dễ bị lừa gạt. Khi tiếp xúc quá sớm với tâm
linh mà thiếu óc phân biện, họ dễ rơi vào con đường mê tín…
·
Trong đời sống thường ngày, người Nhân đạo
thường không mấy nổi bật, những điểm mạnh của họ thường là hiền lành hay ‘hiểu
lẽ thường’ (common-sense) thì đều không gây ấn tượng mạnh cho người khác. Nhưng
khi đã phát triển ở mức độ cao nhất, ta có những bậc Đạo sư và Triết
gia vĩ đại. Đó là những Thích Ca Mâu Ni, Jesus, Plato, Khổng Tử, Lão Tử…
với sức mạnh tư tưởng có tầm ảnh hưởng vượt thời đại, kéo dài hàng ngàn năm,
được nhân thế kính ngưỡng. Những điểm nhấn trong tư tưởng của họ luôn là Minh
triết và Bác ái (từ bi/ tình thương).
Vì vậy, Nhân đạo là đạo về ‘bảo tồn’ (Vishnu), đạo của Minh
Triết (Phật), Tình thương (Jesus), cứu nhân độ thế (các vị Thánh, Bồ tát)… Biểu
tượng của Nhân đạo là Mặt trăng (Nguyệt) – phản chiếu nhân sinh, soi sáng dịu
dàng mà không thiêu đốt, không làm hại sinh linh.
3) Địa đạo:
“Tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng.”
Địa đạo là con đường của HIỂN
LỘ, sáng tạo và trí tuệ.
Nếu như Mặt trời có sức mạnh hủy diệt mạnh mẽ, thì Đất mẹ (Gaia) lại chú trọng
đến sáng tạo (Brahma), vạn vật sinh sôi, trăm hoa đua nở.
·
Thiên đạo chủ về tinh thần, ý chí và sức mạnh;
Nhân đạo chủ về tư tưởng, tình thương, nhân sinh quan; Địa đạo thì chủ về trí
tuệ, làm chủ vật chất.
Người thuộc Địa đạo vì vậy rất đông đảo và đa dạng, thuộc đủ
mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội, với nhiều nhánh nhỏ bên trong:
toán học và khoa học kỹ thuật; nghệ thuật; thiết kế, kiến trúc; thương mại,
giao dịch…
·
Trong một tổ chức, người Thiên đạo thường là
người chỉ đạo, người Nhân đạo là cố vấn hoạch định chiến lược, còn người Địa
đạo là những kỹ thuật viên làm việc trực tiếp để hoàn thành công việc.
·
Chính vì vậy, trong khi Thiên đạo tạo ra những
con người có ý chí mạnh mẽ nhất, Nhân đạo tạo ra những nhà hiền triết khôn
ngoan (wise) và từ bi nhất, thì Địa đạo tạo ra những con người thông minh
(intelligent) và sáng tạo nhất thế giới.
·
Đó là những Pythagore, Copernicus, Da Vinci,
Newton, Faraday, Mendeleev, Einstein, Edison, Tesla… và vô số những bộ óc
vĩ đại khác.
Với trí tuệ và sức sáng tạo cao, người Địa đạo chính là nhóm
người chủ chốt trong việc tạo ra những nền văn minh vật chất của thế giới.
·
Sự phát triển về trí tuệ giúp con người tiền sử
biết sử dụng công cụ, biết dùng lửa, rồi biết chăn nuôi, trồng trọt, săn bắn…
dần hình thành các nền văn minh khác nhau suốt chiều dài lịch sử nhân loại.
·
Trí tuệ thường được thể hiện qua sự sáng tạo, và
sự sáng tạo có mặt ở khắp mọi nơi: từ những món ăn mới, những mẫu thời trang
mới, những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, cho đến những công trình kiến trúc vượt
thời gian…
·
Đến thời cận đại, nhân loại chứng kiến sự bùng
nổ của trí tuệ: những khám phá khoa học, những cuộc cách mạng công nghiệp, nền
giáo dục phổ quát chú trọng vào trí tuệ vật chất… đã thay đổi bộ mặt của trái
đất một cách nhanh chóng, dẫn đến thế giới hiện đại ngày nay. Đó chính là sức
mạnh Địa đạo.
Khai thác vật chất là thế mạnh của người Địa đạo. Nhưng
ngược lại, vật chất cũng có thể là cái bẫy khiến con người trầm luân
trong đó.
·
Tiền bạc thì dễ hiểu rồi. Vàng sinh ra trong
lòng đất, tiền bạc cũng là kết tinh của Địa đạo. Những người Địa đạo thường
giỏi hơn trong việc tạo ra tiền bạc ở cõi trần này, các tỉ phú công nghệ của
thời hiện đại thuộc nhóm này. Nhưng có tiền thì dễ, buông bỏ tiền mới khó. Người
làm ra tiền, nhưng lại bị nó chi phối; tâm bị chi phối, thì không thể đắc đạo.
·
Và có những thứ vô hình mà vẫn là vật chất. Ví
dụ như những nhà khoa học chìm đắm trong các nghiên cứu về thế giới vật chất,
những nghệ sĩ say mê vẻ đẹp của hình tướng, âm thanh… hay những kiến trúc sư,
kỹ sư xây hết công trình này đến công trình khác…
·
Vấn đề của vật chất là sự thiên biến vạn hóa,
nói cách khác là nó có thể biến đổi vô hạn (“bát quái biến hóa vô cùng”),
và người ta có thể lạc lối trong mê cung này trong vô lượng kiếp sống mà không
tìm thấy đường ra, hay không thấy sự cần thiết của việc tầm Đạo. Theo một cách
nói, người ta gọi đây là ‘xảo trí’; đối ngược với ‘minh triết’, đơn giản mà
thông tuệ.
Nếu Thiên đạo là Nhật, Nhân đạo là Nguyệt, thì Địa
đạo là Tinh, là vô số vì sao trên bầu trời vô hạn bao la.
4) Luận bàn:
Đại Đạo tuy một, nhưng lại chia ba. Mỗi đạo thực ra là
một loại năng lượng.
·
Ba loại năng lượng này giao thoa, tạo ra vô số
biến hóa trong vũ trụ, giống như 3 màu cơ bản tạo ra vô số sắc màu của thế gian
này. Mỗi một người, một vật, một sự kiện trên thế gian này đều là kết quả của
cả 3 loại năng lượng này ở những tỉ lệ khác nhau – như một màu cụ thể trong vô
số sắc màu của thế gian.
·
Do đó, khi ta nói một người thuộc Thiên đạo/
Nhân đạo/ hay Địa đạo, thì đó là đang nói một cách tương đối, nói về cái đặc
tính chủ đạo của người đó, chứ không phải người đó chỉ mang một loại năng
lượng.
Vậy hiểu Tam đạo luận có lợi ích gì?
Đầu tiên, Tam đạo luận này chỉ ra một hình mẫu lặp đi lặp
lại trong các diễn giải về thế giới của các tôn giáo và các nền văn minh
Đông- Tây, đối chiếu và liên hệ chúng, từ đó cho thấy một logic có thể xem là
nhất quán của nguyên lý ‘tam nguyên’ hay ‘tam phân’. Từ đây, ta
có thể suy ngẫm về các nền giáo lý, cũng như kiến giải về cách mà thế giới này
đang vận động.
·
Liệu đó có phải chỉ là trùng hợp? Hay
là khi các tôn giáo và hệ tư tưởng, dù có cách tiếp cận và diễn giải khác nhau,
nhưng khi tiệm cận chân lý thì đều thấy cùng một sự thật giống nhau?
Đây cũng có thể xem là một mô hình, một cách giải thích thế
giới theo hướng quy nạp, ngược dòng về nguồn cội của vạn vật. Và mỗi sự vật,
hiện tượng, đều có thể được phân tích theo mô hình tam phân này.
·
Ví dụ: Mọi tôn giáo đều là một con đường nhỏ
(tiểu đạo) bên trong Nhân đạo, với sự khác biệt đôi chút tùy mức độ ảnh hưởng
năng lượng Thiên và Địa. Phật giáo mang đậm dấu ấn của Nhân đạo, trong
đó Từ bi và Trí huệ được đề cao. Abraham tam giáo (Do Thái, Công Giáo và
Hồi Giáo) cũng thuộc Nhân đạo, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh của Thiên đạo,
nặng về Thần quyền, phục tùng, thường xảy ra ‘thánh chiến’. Lão giáo thì
có ảnh hưởng của Địa đạo, thiên về “thuật”, chú trọng luyện khí, luyện đơn…
·
Bên trong một tôn giáo lại có những sự phân
nhánh. Ví dụ như Phật giáo có Tam thừa: Độc giác thừa, Bồ tát thừa và Thanh
văn thừa. Độc giác thừa là con đường ý chí, tự giác ngộ, ứng với Thiên. Bồ
tát thừa là con đường từ bi, hướng tới chúng sinh, ứng với Nhân. Thanh văn thừa
là con đường trí tuệ, học nhiều hiểu rộng mà đắc đạo, ứng với Địa.
·
Ta cũng có thể xem xét lĩnh vực chính trị, vốn thuộc
về Thiên đạo. Ngày nay, theo cơ chế “tam quyền phân lập”, quyền lực nhà nước
được chia thành 3 nhánh Lập pháp- Tư pháp- Hành pháp và bộ máy nhà nước
được tổ chức thành Quốc hội- Tòa án- Chính phủ. Đây cũng là một mô hình
Tam phân! Khi đối chiếu với Tam đạo, ta có thể nhận định là: Tòa án mang ý chí
bảo vệ công bằng, trật tự pháp luật, ứng với Thiên; Quốc hội đại diện cho người
dân, là tiếng nói lương tâm của đất nước, ứng với Nhân; còn Chính phủ trực tiếp
thực hiện các công việc quản lý nhà nước thuộc mọi lĩnh vực, ứng với Địa.
Thêm vào đó, ta có thể suy ngẫm về dòng chảy của thời đại,
được thôi thúc bởi các loại năng lượng khác nhau.
·
Ví dụ: Trong thời kỳ phong kiến, nhà nước
mang ý chí áp đặt cao độ, đặc tính của Thiên là chủ đạo và thể hiện rõ nét. Sau
đó, các nền cộng hòa và chế độ dân chủ tìm cách cân bằng quyền
lực và bảo vệ người dân, Hiến pháp thể hiện ý chí của toàn dân thay vì của một người
cầm quyền; mô hình này là biểu hiện của Nhân đạo. Đến thời điểm hiện tại, người
ta nói về chính phủ “kỹ trị”, ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào quản trị,
đây là biểu hiện của Địa đạo.
Đó là nói về ‘đại thiên địa’. Ta cũng có thể tự nghiền ngẫm
về ‘tiểu thiên địa’ theo cách tương tự:
·
Đạo giáo cho biết cơ thể con người có tam đan
điền (thượng, trung, hạ) và ở mức cao hơn, con người là một ‘tam hợp’ Thần-
Khí- Tinh. Huyền bí học phương Tây thì cho rằng con người có Spirit- Soul-
Body, tức là Tinh thần- Linh hồn- Thể xác. Ta có thể nhận định rằng Thần ứng
với Thiên, Hồn/ Khí ứng với Nhân, Xác/ Tinh ứng với Địa.
Mặt khác, Tam đạo luận cũng có thể xem là một loại hình tâm
lý học, trong đó chỉ ra ba xu hướng chủ chốt về tâm lý của con người. Khi
hiểu Tam đạo, người ta có thể tự quán chiếu để hiểu rõ bản thân mình, hiểu được
đặc tính chủ đạo của bản thân thuộc về nhóm nào. Khi hiểu được đặc tính của bản
thân, người ta có thể suy ngẫm về các cơ duyên và lựa chọn trong đời mình.
·
Tam đạo ảnh hưởng con người không phải là một
Định mệnh, mà thực ra là theo một quy luật của năng lượng. Năng lượng
khác biệt tạo ra đường đi (đạo) khác biệt, nhưng Tam đạo đều không ngoài Đại
Đạo. Điều này giống như 3 dòng chảy (hải lưu) trong cùng 1 đại dương. Và theo
nguyên tắc “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, chính cái
năng lượng của mỗi người khiến họ bị cuốn vào trong dòng chảy năng lượng tương
ứng. Hình ảnh “gió tầng nào, mây tầng ấy” là một minh họa dễ hiểu cho
vấn đề này.
·
Tại sao có người thích chính trị, có người
thích tôn giáo, có người thích kỹ thuật? Cái khuynh hướng tâm lý của
mỗi người dẫn đến lựa chọn của họ, và những lựa chọn khác nhau dẫn đến những
cuộc đời khác nhau. Khi con người hiểu Đạo và tự hiểu mình, thì có thể tỉnh
thức mà bước đi trên đường Đạo, thay vì bị dòng đời cuốn đi một cách vô
thức. “Hãy tự hiểu mình” chính là một chìa khóa để mở ra cánh cửa
đạo.
Và một điều cuối cùng, đó là: Tam đạo luận có thể giúp người
ta hiểu hơn về điểm mạnh điểm yếu của bản thân, từ đó phát huy điểm mạnh và
khắc phục điểm yếu. Học hỏi, hiểu mình, sửa mình, đó là những bước đầu
tiên trên Đường đạo.
---
5) Luận giải siêu hình về ba Ngôi:
Các phần trên của bài viết đã dựa vào Dịch học và biểu tượng
học để lý giải tại sao ba Ngôi Thượng Đế khi biểu hiện ra lại trở thành Khởi
phát– Điều hòa– Hiển lộ (hay các ý nghĩa khác như Hủy diệt- Bảo tồn- Sáng tạo…).
Người đọc phổ thông có thể dừng tại đây.
Mục này sẽ trình bày một lớp lý giải siêu hình (metaphysical) về ba Ngôi của Thượng Đế, dưới các góc nhìn hình học, tâm lý học và Dịch học. Từ đây, bài viết đề ra một câu trả lời hợp nhất cho các câu hỏi lớn:
·
Tại sao Thượng Đế có ba Ngôi? Tại sao ba Ngôi
lại có những đặc tính như vậy?
·
Tại sao các bộ ba thấp hơn lại xuất hiện thường
xuyên khắp các tôn giáo và các học phái huyền bí học? Tại sao rất nhiều vấn đề
lại được chia làm 3?
5.1.
Vấn đề 1: Tại sao Thượng Đế có ba Ngôi? Tại sao các bộ-ba xuất hiện ở khắp nơi?
Trước hết, ta sẽ xem xét vấn đề bằng tư duy hình học:
·
Siêu hình học cho rằng vào lúc ban sơ, khi chưa
có vũ trụ, Thượng Đế là một Hiện hữu duy nhất. Thực tại này được hình dung như 1
điểm. Nhưng một điểm lý tưởng thì không chiếm không gian. Do đó, lúc này,
Thực tại là 1 điểm duy nhất trong không gian chưa tồn tại. Đây là hình dung về Ngôi
1.
·
Từ 1 điểm tuyệt đối mà muốn biểu lộ ra thêm, thì
bước đầu tiên chính là tự phân cực tạo thành 2 nửa. Ta hình dung: từ 1 dấu
chấm, kéo ra, thì sẽ tạo thành 1 đoạn thẳng (hay đường thẳng). Đây là
hình dung của Ngôi 2 trong tiến trình biểu lộ. Một đoạn thẳng lý tưởng dù có
kéo dài đến vô hạn thành đường thẳng lý tưởng, thì nó cũng chưa chiếm không
gian biểu lộ (không gian trực quan). Giải thích một cách đơn giản: Một tam
giác lý tưởng có thể tô thêm màu sắc, nhưng một điểm hay đường thẳng lý tưởng thì
không thể.
·
Vì vậy, để thực tại có thể biểu lộ như một thực
thể đa chiều, nhất định phải xuất hiện thêm một Ngôi 3, vượt ra khỏi ‘đường
thẳng phân cực’ của Ngôi 2. Ta hình dung: với 3 điểm không thẳng hàng, không
gian biểu lộ bắt đầu hình thành. Lúc này, thực tại được biểu lộ lần đầu
tiên như là một hình dạng có kích thước không gian. Và tam giác, có 3 đỉnh 3
cạnh, là một hình dạng hữu hình tối giản có thể quan sát được, khác với điểm và
đường thẳng, vốn là những khái niệm trừu tượng phi kích thước. Nói cách khác, 3
chính là ngưỡng bắt đầu của thế giới hiện tượng.
·
Như vậy, nếu ta tin vào thuyết biểu lộ rằng toàn
bộ thế giới này là sự biểu lộ của Thượng Đế từ 1 điểm duy nhất, thì tư duy hình
học tối giản sẽ suy luận về quá trình biểu lộ như sau: từ 1 điểm thành 1
đoạn thẳng, từ đoạn thẳng thành 1 tam giác… Khi đó, Tam giác chính là hình dạng trực quan tối giản đầu tiên
mà Thượng Đế biểu lộ!
·
Câu nói được cho là của Plato, “God always
geometrizes” – “Thượng Đế luôn luôn dùng hình học”, có lẽ cũng là ý
này chăng?
Nếu cách hiểu trên là đúng, thì:
·
Ba Ngôi không phải là ngẫu nhiên hay áp đặt, mà
là hệ quả của những nguyên lý siêu hình của sự biểu lộ (manifestation).
Khi có đủ 3 Ngôi/ 3 điểm, ta mới bắt đầu có thực tại được biểu lộ. Nói
cách khác, thế giới hiện tượng bắt đầu từ con số 3 của ‘tam nguyên’
(“Tam sinh vạn vật”); trước 3, nhất nguyên và nhị nguyên đều thuộc về
thế giới ý niệm.
· Và như vậy, ‘tam nguyên’ là cấu trúc tối giản của một thực thể biểu lộ.
Khi xét về khía cạnh tâm lý học, ta lại thấy như sau:
·
Khi dùng tư duy hình học để nghĩ về sự biểu lộ của
Thượng Đế, thực ra ta đang dùng sự tưởng tượng có tính trực quan. Tam giác có diện
tích, trí óc con người nhận thấy có một khoảng không gian được bao bọc. Nói
cách khác, trí óc xem các hình đa giác là những biểu hiện trực quan
có kích thước; trong đó, tam giác (3) là hình dạng tối giản. Trong khi
đó, điểm (1) và đoạn (2) thì được xem như những tồn tại trừu tượng, tức là
ý niệm về hình dạng chứ không phải hình dạng trực quan thực sự.
·
Do đó, nếu Thượng Đế tự biểu lộ như một tam giác
thì trí óc nhận thấy đó là ‘trực quan’, là biểu lộ. Còn nếu Thượng Đế ở dạng điểm
và đoạn thì trí óc xem là trừu tượng, không trực quan. Đây là vấn đề thuộc về tư
duy trực quan của con người, được phản ánh qua môn hình học.
Như vậy, dưới góc nhìn của tư duy trực quan, thì Ba Ngôi chưa hẳn là bản thể của Thượng Đế, mà là cấu trúc
mà trí óc con người nhận thức về cách Thượng Đế biểu lộ thành thế giới này.
·
Nhận định này không phủ nhận bản thể luận, huyền
bí học, hay các học thuyết siêu hình về ba Ngôi; mà nó chỉ ra một cơ sở thuộc
về tâm lý học con người để lý giải và bổ sung cho vấn đề.
·
Điều quan trọng là lý giải này không yêu cầu
niềm tin thần học, mà dựa trên tư duy hình học. Lúc này, ba Ngôi không còn là
một tiên đề phải chấp nhận bằng niềm tin, mà sẽ là một cấu trúc hợp lý có thể
hiểu được bằng nhận thức trực quan.
Ta hãy xem xét hệ thống biểu tượng của thuyết Âm Dương, để
thấy tính tương đồng trong ý niệm về biểu lộ, như sau:
·
Thái Cực là ngôi 1. Thái Cực là tồn tại tối
thượng mà trí óc con người có thể hình dung. Thái Cực không thể mô tả được, vì
mô tả cần có sự so sánh đối chiếu. Thái Cực thường được tượng trưng bằng một
vòng tròn, để biểu diễn ý ‘chưa phân cực’ (nên cũng là ‘Vô Cực’). Tuy
nhiên, mọi biểu tượng đều có tính tương đối. Ví dụ như vòng tròn thì có kích
thước, nên có tính tương đối. Do đó, bài viết này dùng hình tượng 1 dấu chấm
trong không gian chưa tồn tại để hình dung về Thái Cực (vòng tròn nhỏ đến tuyệt
đối thì như một dấu chấm). Trong cả hai trường hợp, ý niệm về Thái Cực đều là
‘tồn tại duy nhất, tuyệt đối, chưa phân cực’.
·
Thái Cực tự phân cực thành Âm, Dương. Về mặt
biểu tượng, Dịch học dùng 1 vạch liền tượng trưng cho Dương, 1 vạch đứt tượng
trưng cho Âm. Ta thấy rõ sự tương tự của biểu tượng này với hình ảnh 1 dấu chấm
kéo dài thành đoạn thẳng nối 2 điểm cực đã nói đến. Thêm vào đó, trong thuyết
âm dương, người ta thường gọi là “Lý Thái Cực” và “Khí Âm Dương”,
chúng nằm ở tầng ý niệm và không thuộc về thế giới hiện tượng. Điều này
cũng tương ứng với việc điểm và đường thẳng đều vô hình vô dạng trong tư duy
hình học như đã phân tích.
·
Âm và Dương tạo thành các cặp đối lập (Sáng và
Tối, Ngày và Đêm, Đực và Cái…). Âm Dương tương khắc nhưng lại tương sinh, không
triệt tiêu lẫn nhau, tạo ra trạng thái cân bằng động và chuyển hóa qua lại giữa
hai mặt đối lập. Sự tương tác này phân hóa thành 4 trạng thái (Thái Âm, Thái
Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương), gọi là Tứ Tượng.
·
“Tứ Tượng sinh Bát Quái”. Bát Quái là 8
quẻ, mỗi quẻ có cấu trúc 3 hào (Thiên – Nhân – Địa), là các biểu tượng
tượng trưng cho những thực thể đầu tiên của thế giới hiện tượng (Càn– trời,
Khôn– đất, Ly– lửa, Khảm– nước…).
·
Ta có sự tương đồng về mặt biểu tượng dịch học
với hình học như sau: Với Tứ Tượng, mỗi Tượng được biểu diễn bằng 2 hào
(một vạch trên, một vạch dưới), chỉ tượng trưng cho những ý niệm về biến đổi,
tương tác trong giới hạn của trục nhị nguyên. Đến khi có Bát Quái, một quẻ có
cấu trúc 3 hào mới được dùng để tượng trưng cho các hiện tượng trong thế
giới biểu lộ. Không rõ điều này là hữu ý hay vô ý, nhưng cấu trúc 3
thành phần này tương tự việc một tam giác có 3 đỉnh/ 3 cạnh mới trở
thành một hình dạng hữu hình có kích thước trong tư duy hình học như đã trình
bày.
·
Như vậy, các biểu tượng của Dịch học rất phù hợp
với những gì bài viết đã lý giải về sự biểu lộ và tam nguyên.
5.2. Vấn đề 2: “Tại sao
ba Ngôi lại có những đặc tính như vậy?”
Mục 2.1 chỉ ra lý do mà trí óc con người chấp nhận ý tưởng
“Thượng Đế có ba Ngôi". Khi đã chấp nhận rằng Thượng Đế có ba Ngôi, con
người muốn hiểu về ba Ngôi. Mục này đưa ra lý giải cho một số cách hiểu phổ
biến trên thế giới.
Đầu tiên, dựa trên những gì đã phân tích, bài viết đưa ra luận
giải về tính chất của ba Ngôi như sau:
·
Khởi nguyên luận cho rằng vào lúc ban sơ, khi
chưa có trời đất, thậm chí chưa có gì tồn tại, chỉ có Thượng Đế là một Hiện hữu
duy nhất. Thực tại này trong thuyết Âm Dương gọi là Thái Cực, ta đã hình dung
như 1 dấu chấm, 1 điểm duy nhất trong không gian chưa tồn tại. Vì là
nguồn gốc của sự biểu lộ thành thế giới, Ngôi 1 là ngôi của lực KHỞI PHÁT từ
cái đơn nhất (singularity). Thuyết biểu lộ cho rằng thế giới này xuất phát
từ một ý nghĩ của Đấng Tuyệt đối, đó là ý chí khởi nguyên. Vì chỉ có một, ý chí
này là sức mạnh tuyệt đối, không có gì ngoài nó, không có sự nhân nhượng. Xét
hệ thống Tam tài, Ngôi 1 ứng với Thiên.
·
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Sự phân cực dẫn đến
xung đột, nhưng nếu xung đột đi đến triệt tiêu lẫn nhau thì lại quay về trạng
thái đơn nhất, tiến trình biểu lộ sẽ không thể được tiếp tục. Vì vậy, để có thể
biểu lộ thì xung đột cần phải được điều hòa. Do đó, Ngôi 2 chủ về ĐIỀU HÒA
các mối quan hệ giữa các mặt đối lập (duality) để duy trì sự tồn tại. Khi
xem xét năng lượng của ngôi này dưới góc nhìn nhân cách hóa, thì ngôi này liên
quan đến tình thương và sự khôn ngoan. Xét hệ thống Tam tài, Ngôi 2 ứng với
Nhân.
·
Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát
Quái. Âm dương giao thoa, thì bắt đầu sinh hóa vạn vật. Như vậy, Ngôi 3 là ngôi
HIỂN LỘ, vượt ngoài nhị nguyên, sáng tạo ra sự đa dạng (multiplicity). Và
khi thực tại càng biểu lộ thì mức độ phức tạp, vi tế và thông minh ngày càng
gia tăng (“Bát quái biến hóa vô cùng”). Do đó, thuộc tính nhân cách hóa
của ngôi này được hiểu là trí tuệ, sáng tạo và vận động. Xét hệ thống Tam tài,
Ngôi 3 ứng với Địa.
·
Như vậy, ba Ngôi mang các ý nghĩa khởi phát- điều hòa- hiển lộ; ứng với singularity- duality- multiplicity, cũng như
ý chí- tình thương- trí tuệ, dựa trên
những suy luận về quá trình biểu lộ của thực tại.
·
Thêm vào đó, khi xem xét thực tại theo hướng Tam
nguyên, thì mỗi nguyên lý cần phải có 1 tên gọi riêng. Bài viết mượn các chữ Thiên-
Nhân- Địa từ Tam tài để gọi tên từng nhóm này, và gọi cấu trúc đó là “Tam
đạo”.
Giờ ta sẽ xem xét một số cách hiểu về ba Ngôi:
Ấn Độ giáo có Trimurti: Shiva – hủy diệt (1), Vishnu
– bảo tồn (2), Brahma – sáng tạo (3).
·
Cách giải thích nhân cách hóa này của Ấn giáo
rất gần với ý tưởng của bài viết, chỉ có khác biệt đáng chú ý là ở Ngôi 1,
Shiva là thần hủy diệt.
·
Lý do nằm ở việc Ấn Độ cho rằng vũ trụ biểu hiện
theo chu kỳ (manvantara): sinh- trụ- diệt, rồi lại sinh. Trước khi sinh cái mới
thì cái cũ phải bị hủy diệt. Do đó, Shiva đại diện cho tính hủy diệt của Ngôi
1, nhưng ngụ ý rằng một cái mới sẽ khởi phát sau hủy diệt.
Theo Ai Cập giáo: Osiris- Isis- Horus.
·
Osiris liên quan đến cái chết và phán xét, ứng
với Ngôi 1 (có sự tương đồng với Shiva). Isis là biểu tượng của sự nuôi dưỡng
và chữa lành, phù hợp với tính điều hòa của Ngôi 2. Horus là vị thần của sự
sống mới và bầu trời, ứng với tính hiển lộ của Ngôi 3.
·
Đáng chú ý, đây là mô hình Cha- Mẹ- Con, có tính
nhân cách hóa rất cao.
Theo H. P. Blavatsky, người khai mở Thông thiên học vào thế kỷ
19, vũ trụ trải qua quá trình hiển lộ như sau:
·
Sau Đấng Tuyệt đối (The Absolute), có 1 Thượng
Đế chưa biểu lộ (unmanifested Logos), được gọi là “Nguyên nhân đầu tiên”.
Ứng với Ngôi 1.
·
Vật chất-tinh thần, Sự Sống, là Ngôi 2.
Khái niệm “Vật chất-tinh thần” này dường như là 1 hợp nhất của tinh thần và vật
chất. Tính nhị nguyên này rất giống với Lưỡng nghi Âm-Dương.
·
Ngôi 3 được gọi là Cosmic Ideation (tạm
dịch ‘Niệm Tưởng Thành Vũ Trụ’), Mahat
hay Trí Tuệ, Linh hồn Vũ trụ. Tính chất trí tuệ và tạo thành thế giới này rất
gần với khung Hiển lộ/ trí tuệ của Ngôi 3.
Alice Bailey, một nhà Thông thiên học thế kỷ 20, kế thừa ba
Ngôi của Blavatsky, và hệ thống hóa chi tiết hơn như sau:
·
Ngôi 1: Thượng Đế chưa biểu lộ. Cha. Ý chí.
Năng lượng dương (positive).
·
Ngôi 2: Vật chất-tinh thần, Sự Sống. Con. Ý
thức. Tình thương- Minh triết. Năng lượng trung hòa.
·
Ngôi 3: Cosmic Ideation (tạm dịch ‘Niệm Tưởng
Thành Vũ Trụ’), Linh hồn Vũ trụ. Thánh thần. Hình dạng. Trí Năng. Năng
lượng âm (negative).
·
Các thuộc tính nhân cách hóa Ý chí, Tình thương-
Minh triết, Trí Năng này rất gần với khung Ý chí, Tình thương, Trí tuệ của bài
viết.
Phật giáo có Tây phương tam Thánh: A Di Đà – Dũng (1), Quán
Thế Âm – Bi (2), Đại Thế Chí – Trí (3).
·
Nhiều người tin rằng Phật giáo là vô thần giáo.
Tuy nhiên, nhiều người tin rằng A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí chính là ẩn
dụ của ba Ngôi.
·
A Di Đà tượng trưng cho Dũng, là vị Phật đầu
tiên, ứng với khởi nguyên (ngôi 1). Quán Thế Âm tượng trưng tâm (từ) Bi, ứng
với điều hòa (ngôi 2). Đại Thế Chí tượng trưng cho Trí, ứng với hiển lộ (ngôi
3).
·
Ý nghĩa của bộ ba này cũng rất gần với Alice
Bailey.
Như vậy, đây là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao ba
Ngôi lại có những đặc tính như vậy?”:
·
Tùy tôn giáo, trường phái mà có những cách hiểu
khác nhau về ba Ngôi; khái niệm “Tam vị nhất thể” của Công giáo không phải là
cách hiểu duy nhất. Có những tôn giáo dùng những vị thần khác nhau để đại diện
cho ý niệm về 3 đấng tối cao. Có những trường phái lại gán những đặc tính nhân
cách hóa cho Thượng Đế… Những sự khác biệt này là tùy theo bối cảnh văn hóa,
lịch sử… nhưng đều cùng nói về một cấu trúc ‘tam nguyên’.
·
Quan trọng nhất: dù hiểu như thế nào đi nữa, thì
đó cũng là những cách khác nhau mà con người hình dung về Thượng Đế. Vì
vậy, mọi cách hiểu đều bị giới hạn hay điều kiện hóa bởi trí óc con người.
·
Khi đã hiểu những điều này, người ta có thể bỏ
qua những khác biệt trong cách diễn đạt, để nhìn sâu vào cấu trúc và bản chất
của vấn đề.
5.3. Lý giải tính phổ quát
của mô hình Tam nguyên:
“Tại sao các bộ ba thấp hơn lại xuất hiện thường xuyên
khắp các tôn giáo và các học phái huyền bí học? Tại sao rất nhiều vấn đề lại
được chia làm 3?”
·
Theo cách hiểu siêu hình của thần học,
thì mọi thực tại trên thế giới này cũng được biểu lộ theo cùng nguyên tắc mà
Thượng Đế đã biểu lộ, tức là theo lý tam nguyên. Con người cũng có những
mô hình khác: Tứ đại của phương Tây (4 nguyên tố), Ngũ hành phương Đông (5 nguyên
tố), Seven rays của Bailey (7 tia năng lượng)… nhưng tam nguyên dường như là phổ
biến và thường được bắt gặp hơn.
·
Dưới góc nhìn tâm lý học nhận thức trực
quan: Khi người ta tìm cách phân chia một sự vật/ hiện tượng để phân tích, thì
có vô số cách để phân chia nhiều hơn 2 cấu phần (đa nguyên). Nhưng tam
nguyên (3 cấu phần) là mô hình tối giản mà tư duy trực quan có thể tiếp nhận
như một cấu trúc có tính biểu lộ và vận động. Ít hơn 3, khi quy về 2 (nhị
nguyên), thì trí óc có xu hướng xem đó là mối quan hệ nội tại giữa hai cực. Và
khi quy về 1 (nhất nguyên), thì lại không còn sự phân chia hay quan hệ cấu trúc
nào nữa. Đây là cách mà trí óc con người hiểu về thế giới hiện tượng.
·
Như vậy, đây là hai cách tiếp cận khác nhau về
thực tại. Cách hiểu từ góc nhìn tâm lý không phủ định cách hiểu siêu hình, mà
nó bổ sung thêm một cách lý giải và chỉ ra một mẫu số chung trong tư duy của
nhân loại.
Từ đó, ta có thể hệ thống hóa các loại tư duy như sau:
·
Tư duy nhất nguyên (singularity): là tư
duy về khởi phát vấn đề. Trong cuộc sống đời thường, tư duy này thường đặt ra
câu hỏi “Mục đích là gì”, “Nên bắt đầu làm gì?”… Trong các hệ tư
tưởng, tư duy này bước vào thế giới ý niệm siêu hình nhất, với các khái niệm như:
Thái Cực (Dịch học), Đạo (Lão Tử), Chân Như hay “sắc tức thị không” (Phật
giáo), Parabrahman (Ấn giáo)…
·
Tư duy nhị nguyên (duality): là tư duy về
các mặt đối lập. Trong cuộc sống đời thường, tư duy này thường đặt ra câu hỏi “Làm
thế này đúng hay sai/ tốt hay xấu/ lợi hay hại…” Trong các hệ tư tưởng, tư
duy này đào sâu về quan hệ giữa các mặt đối lập (âm-dương) và mối quan hệ của
chúng: Tinh thần và Vật chất, Hữu và Vô, Chánh và Tà, Tồn tại hay Không tồn tại…
· Tư
duy đa nguyên (multiplicity): là tư duy về vận hành và sáng tạo. Trong cuộc
sống đời thường, tư duy này thường đặt ra câu hỏi “Nên làm như thế nào cho
hiệu quả?” Trong các hệ tư tưởng, tư duy này liên hệ với các học thuyết về Ba
Ngôi, Tứ đại, Ngũ hành, Bảy cung… Trong đó, mô hình tam nguyên (triadic) được
xem là cấu trúc biểu lộ tối giản.
Đây là 3 cấp tư duy khác nhau của con người về thực tại, và
chúng lần lượt tương ứng với 3 Ngôi như đã phân tích. Nhưng liệu 3 loại tư duy
này tạo nên cách con người hiểu về cấu trúc thực tại, hay cấu trúc của thực tại
tạo ra 3 loại tư duy này? - Đó là câu hỏi.
No comments:
Post a Comment